

|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Trang chủ | Hộp thư | Tivi | Thành viên | Ghi danh | Lịch | Tìm kiếm | Bài gởi hôm nay | Ðánh dấu đã đọc | Thứ hạng |
| Danh nhân Đất Việt Những bài viết về danh nhân Việt Nam |
![]() |
![]() |
Ðiều chỉnh đề tài | Chế độ hiển thị bài viết | ![]() |
|
|
#1 |
![]() ![]() Tên thật: Chưa khai sinh
Giới tính:
![]() Tham gia: 02-02-2010
Bài gởi: 485
Đã gởi lời cảm ơn: 264
Được cảm ơn 608 lần trong 217 bài viết
Danh vọng: 15 ![]() |
![]() ĐINH TIÊN HOÀNG TRONG LỊCH SỬ VÀ QUA DI TÍCH ![]() Lời nói đầu: ![]() Mảnh đất Hoa Lư Ninh Bình hiền hòa đã khéo sinh ra những người con mà cuộc đời họ đã sớm đi vào thơ ca Việt Nam: ![]() “Bé thì chăn nghé chăn trâu Trận bày đã lấy bông lau làm cờ Lớn lên xây dựng cơ đồ Mười hai sứ tướng bây giờ đều thua” Những câu thơ trên là hình ảnh của Đinh Bộ Lĩnh- cậu bé mưu dựng cơ đồ từ những trận chiến cờ lau khi còn thuở chăn trâu, cắt cỏ. Đinh Bộ Lĩnh là người mở đầu cho triều Đinh huy hoàng một thời trong lịch sử, ông xứng đáng là người giữ vị trí trụ cột trong việc củng cố quốc gia thống nhất, tập quyền trong thế kỷ thứ 10. ![]() Long Sàn ( nơi Đinh Tiên Hoàng thượng tọa lúc giải trí) ![]() Về mảnh đất Hoa Lư- Ninh Bình, được tận mắt chứng kiến thế núi non, sông nước, được thăm ngôi đền vua Đinh lấy núi Mã Yên làm án, toạ lạc tại thôn Yên Thượng, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư ta càng hiểu rõ hơn lịch sử triều Đinh từ hơn 1000 năm về trước, hiểu rõ hơn về vị vua tài ba có công thống nhất giang sơn, lập nên triều Đinh mở đầu cho việc thành lập nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên ở Việt Nam. Cuộc đời của Đinh Tiên Hoàng có nhiều điểm nổi bật đáng lưu ý. Đó là cái tài ba của vua dẹp loạn 12 sứ quân trong thời buổi tranh hùng cát cứ, loạn lạc khắp nơi. Cái hào khí, niềm tự hào dân tộc thể hiện trong chính sách trị vì sau khi lên ngôi vua. Nhưng vào những năm cuối đời, Đinh Tiên Hoàng đã phạm sai lầm bỏ trưởng lập ấu, cho con út làm Thái tử gây nên nạn loạn lạc trong hoàng tộc! Loạn 12 sứ quân và thống nhất đất nước: BỐI CẢNH Năm 944, Ngô Quyền mất, uỷ thác con trưởng là Ngô Xương Ngập cho Dương Tam Kha - em của Dương hậu, vợ của Ngô Quyền. Dương Tam Kha cướp ngôi, tự lập mình làm vua, xưng Dương Bình Vương. Ngô Xương Ngập chạy về nhà một hào trưởng - Phạm Lệnh Công ở làng Trà Hương - Nam Sách (Hải Dương). Phạm Lệnh Công che chở cho Ngô Xương Ngập, đã ba lần đưa Ngô Xương Ngập vào rừng núi Hun Sơn đào mà trú ẩn, Dương Tam Kha ba lần sai quân đi bắt Ngô Xương Ngập mà không được. Dương Tam Kha lấy Ngô Xương Văn, con thứ hai của Ngô Quyền và Dương Như Ngọc, làm con nuôi. Từ khi Dương Tam Kha lấy ngôi của nhà Ngô, nhiều nơi không chịu thuần phục, các thủ lĩnh nổi lên cát cứ một vùng thường đem quân đánh chiếm lẫn nhau. Năm 950, Dương Tam Kha sai Ngô Xương Văn đi đánh Thái Bình. Ngô Xương Văn dẫn quân quay lại lật đổ Dương Tam Kha. Xương Văn không giết Tam Kha, chỉ giáng xuống làm Chương Dương công. Năm 950, Ngô Xương Văn tự xưng làm Nam Tấn Vương, đóng đô ở Cổ Loa. Ngô Xương Văn cho người đón anh trai Ngô Xương Ngập về. Được Dương thái hậu chuẩn tấu, Ngô Xương Ngập cũng làm vua, là Thiên Sách Vương. Lúc đó cùng tồn tại hai vua Nam Tấn Vương và Thiên Sách Vương. Sử sách gọi là Hậu Ngô Vương. Nhưng năm 954, Ngô Xương Ngập bị thượng mã phong mà chết, chỉ còn một vua là Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn. Năm 965, Ngô Xương Văn đi đánh thôn Đường và Nguyễn ở Thái Bình bị phục binh bắn nỏ chết.Con của Ngô Xương Ngập là Ngô Xương Xí nối nghiệp, nhưng thế lực ngày càng yếu kém phải lui về giữ đất Bình Kiều. THẬP NHỊ SỨ QUÂN (945- 967) Từ khi Dương Tam Kha tiếm vị rồi những người thổ hào ở các nơi như bọn Trần Lãm, Kiều Công Hãn... đều xướng lên độc lập, xưng là Sứ quân.Về sau Nam Tấn Vương đã khôi phục được nghiệp cũ, nhưng các Sứ quân cũng không chịu về thần phục. Bởi vậy nhà vua cứ phải đi đánh dẹp mãi mà không yên được. Đến khi Nam Tấn Vương bị tic bắn chết, thì con Thiên Sách Vương là Ngô Xương Xí lên nối nghiệp, nhưng thế nhà vua lúc ấy suy nhược, không ai phục tùng nữa. Ngô Xương Xí về đóng giữ ở đất Bình Kiều. Tướng nhà Ngô là Đỗ Cảnh Thạc cũng giữ một chỗ xưng là sứ quân. Lúc bấy giờ trong nước có cả thảy 12 Sứ quân, gây ra cảnh nội loạn kéo dài đến hơn hai mươi năm. Mười hai sứ quân gồm: Ngô Xương Xí giữ Bình Kiều (nay là làng Bình Kiều, Khoái Châu, Hưng Yên). Đỗ Cảnh Thạc giữ Đỗ Động Giang (thuộc huyện Thanh Oai). Trần Lãm, xưng là Trần Minh Công giữ Bố Hải Khẩu (Kỳ Bố, tỉnh Thái Bình). Kiều Công Hãn, xưng là Kiều Tam Chế giữ Phong Châu (huyện Bạch Hạc). Nguyễn Khoan, xưng là Nguyễn Thái Bình giữ Tam Đái (phủ Vĩnh Tường). Ngô Nhật Khánh, xưng là Ngô Lãm Công giữ Đường Lâm (Phúc Thọ, Sơn Tây). Lý Khuê, xưng là Lý Lang Công giữ Siêu Loại (Thuận Thành). Nguyễn Thủ Tiệp, xưng là Nguyễn Lịch Công giữ Tiên Du (Bắc Ninh). Lữ Đường, xưng là Lữ Tá Công giữ Tế Giang (Văn Giang, Bắc Ninh). Nguyễn Siêu, xưng là Nguyễn Hữu Công giữ Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Đông). Kiều Thuận, xưng là Kiều Lịch Công giữ Hồi Hồ (Cấm Khê, Sơn Tây). Phạm Bạch Hổ, xưng là Phạm Phòng Át giữ Đằng Châu (Hưng Yên). Trong thế loạn lạc này mảnh đất Hoa Lư nuôi dưỡng một cậu bé hằng ngày chăn trâu, cắt cỏ với những trận cờ lau sau này tạo nên nghiệp lớn. Cậu bé đó chính là Đinh Bộ Lĩnh. CỜ LAU TẬP TRẬN Đinh Bộ Lĩnh là con của Đinh Công Trứ- một người bạn chiến đấu của Ngô Quyền, từ thời hai người còn là tướng thân cận của Dương Đình Nghệ). Cha mất sớm. Bà mẹ từ trước đã không theo chồng vào phía nam, mà ở lại sống trong cảnh nghèo nàn lam lũ tại quê nhà ở động Hoa Lư, châu Đại Hoàng (nay thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình). Cả một thời gian dài mò cua bắt ốc giúp mẹ, cậu bé Đinh Bộ Lĩnh đã phải đến ở nhờ người chú là Đinh Thúc Dự tại sách Bông. Chú giao cho đi chăn trâu, cắt cỏ, do đó mà chơi thân với lũ trẻ trong làng. Cậu bé láu lỉnh thông minh đã bày ra nhiều trò chơi khá độc đáo. Lúc bấy giờ bốn phương loạn lạc, các ông thổ hào ở các vùng đều mong mở mang cơ nghiệp, tranh bá đồ vương, nên chuyên dùng gươm giáo để đọ sức nhau, đem quân đi gây chiến nơi này nơi khác. Các cảnh tượng ấy đập vào mắt cậu bé, làm cho cậu nhiều lần ước mơ một cuộc tranh đua! Cậu tưởng tượng một ngày kia, mình cũng có thể uy nghi chiếc ngự thanh gươm, trổ tài với thiên hạ. Chưa đến ngày đó, thì ngay bây giờ sao ta lại không thử diễn tập trong hoàn cảnh đồng cỏ mênh mông, núi rừng bát ngát này. Nghĩ vậy nên cậu gọi tất cả bọn trẻ lại, bắt bọn chúng chéo tay làm kiệu cho cậu ngồi lên, rước đi quanh cánh đồng. Đám rước rầm rộ như vậy, nhưng không có cờ quạt thì chưa uy nghi, cậu nghĩ ra sáng kiến, cho bọn trẻ bẻ những cây hoa lau, cầm cao lên, hộ tống xung quanh cái kiệu tay của mình. Sau đám cờ lau, kiệu người ấy là hàng chục, hàng trăm những chiến binh tí hon, nối đuôi nhau, hò hét, hoan hô thật là náo nhiệt. Có hôm cậu kéo cả đoàn sang các thôn bên cạnh, khiêu khích cho lũ trẻ bên ấy kéo ra, tha hồ vật, đấm, xô đẩy nhau. Cứ thấy nhóm của mình núng thế, là cậu bé ngồi trên kiệu lại nhảy ngay xuống, xông đến những chú lực lưỡng nhất, thách nhau vài keo vật. Bọn trẻ các thôn, dù sức vóc đến đâu, trước những miếng vật tài tình, điêu luyện của Đinh Bộ Lĩnh cũng đều phải đầu hàng. Thế là đám quân cờ lau bé bỏng này mỗi ngày một đông đảo thêm lên. Dân chúng trong vùng, nhất là các cụ phụ lão, nhìn những cảnh ấy, đều khâm phục cậu bé, và tin rằng chắc chắn sau này cậu sẽ có một sự nghiệp phi thường. Đang đà phấn khởi hân hoan, cậu bé hứng chí nghĩ ra việc khao quân đánh chén. Phải cho quân sĩ ăn ngon, chúng mới thêm gắn bó với mình. Chẳng cần suy nghĩ sâu xa gì, cậu bé cho đoàn quân vật ngay con trâu mộng của ông chú mình ra làm thịt. Bọn trẻ được một bữa khao quân khoái chí, càng thêm yêu quí "vị lãnh tụ tí hon" của mình. Chúng ăn sạch thịt trâu, lòng trâu, giữ lấy sừng trâu để làm đồ đựng rượu, phơi da trâu để dự định làm chiếc trống đại sau này. Mọi việc được sắp đặt đầy đủ trên bãi cỏ ngoài đồng dưới chân núi không cho ai biết. Ngay chiều hôm ấy về nhà, ông chú hỏi trâu đâu, cậu bé liến láu chối là trâu đi lạc vào hang, không sao gọi ra được. Ông chú bắt cậu bé phải dắt ra tận nơi xem xét. Đến một chỗ khe núi, chú đã cho cắm sẵn đuôi vào lỗ hở, liền gọi toáng lên: - Chú ơi! Trâu vào hang rồi, mà cửa hang nó khép lại hay sao ấy. Ông chú thấy vô lý, hùng hổ chạy lại rút ra được cái đuôi, mới biết rõ là bị thằng cháu lừa. Ông vác dao đuổi thằng bé. Nó ba chân bốn cẳng chạy ra phía bờ sông, chú càng bực mình càng đuổi gấp. Hoảng quá, cậu bé nhảy đại xuống nước mất tăm. Nước sông tung tóe, cao đến hơn đầu người, đúng vào lúc nắng quái chiều hôm chiếu vào thành một chùm hào quang óng ánh, rực rỡ. Ông chú nhìn ra có cảm giác như có một cái đầu rồng chúc xuống để cõng thằng bé lên cao.Ông chú bất giác tưởng như có rồng vàng hạ xuống đón cháu, vội vàng quỳ xuống nhắm nghiền mắt. Khi mở mắt ra thì mặt sông trở lại bằng phẳng, nắng cũng vừa tàn còn đứa cháu của ông thì chẳng thấy quay lên. Ông đành cắm con dao xuống đất, ngồi chờ, vừa chờ vừa lo ngại...*Có lẽ đây là điềm báo cho vị vua thống nhất giang sơn và triều Đinh sau này. Ngay lúc ấy, chú bé lặn một hơi sang bờ bên kia, theo đường chéo góc cho ông chú không nhìn thấy, rồi tìm đường khác quay về làng, lén đến mấy người bạn thân, bí mật rủ nhau đi, không để một ai dò ra tung tích. Ngày nay, tới thăm mảnh đất Hoa Lư ta vẫn thấy tái hiện lại hình ảnh cờ lau tập trận một thời. Những cậu bé cầm cờ lau vươn vai khoan thai ngồi trên mình trâu làm ta nhớ lại tuổi thơ đầy hòa bão khát vọng thống nhất giang sơn một thời của cậu bé chăn trâu, cắt cỏ, mò cua, bắt ốc! Tự tin vào sức khỏe của mình, Đinh Bộ Lĩnh cùng hai cậu bạn tìm đến những vị tướng hùng cứ các nơi, xin vào hầu hạ. Cuối cùng các cậu sang mãi bên vùng Bố Hải Khẩu (nay thuộc tỉnh Thái Bình) xin gia nhập làm bộ hạ của ông Trần Lãm, tức là Trần Minh Công là một trong những sứ quân hùng mạnh về kinh tế, lại chiếm giữ vùng đất quan trọng là Bố Hải khẩu (nay là thành phố Thái Bình). Càng lớn, Đinh Bộ Lĩnh càng tỏ ra là một chàng trai khôi ngô tuấn tú và rất thông minh. Trong những lần Trần Lãm và các tướng tá bàn bạc việc binh, Bộ Lĩnh đứng canh gác hầu hạ, biết cách nghe lỏm nhiều mưu mẹo hành binh, dần dần các binh thư, binh pháp ông đều thông thạo. Đinh Bộ Lĩnh làm quen với nhiều bạn bè, ai có khả năng gì là cố gắng học hỏi, từ những chuyện trận mạc cho đến những việc điều hành chính sự, chăm sóc lương dân. Mọi người đều quí mến và tôn phục ông. Đinh Bộ Lĩnh được Trần Minh Công tin tưởng, cho kết duyên với cô con gái độc nhất của ông là cô Trần Nương một người có học thức, đã giúp ông hiểu biết thêm ít nhiều chữ nghĩa, sách vở. Đinh Bộ Lĩnh là người đã bày ra kế sách để diệt được Lý Lãng Công ở Siêu Loại, và thu phục được Phạm Phòng Át ở Đằng Châu. Minh Công chết, giao lại toàn quyền cho con rể. Đinh Bộ Lĩnh trở thành một sứ quân cầm đầu vùng Bố Hải, rồi dần dần phát huy thế lực, dẹp được cả các sứ quân còn lại. Đinh Bộ Lĩnh đi tới đâu, đều được người dân địa phương góp sức ủng hộ nhiệt tình nên địa bàn hoạt động của Đinh Bộ Lĩnh ngày càng mở rộng, quân số, binh lương ngày càng lớn mạnh. Được sự ủng hộ của người dân khắp nơi, ra quân là chiến thắng, đi đến đâu là nơi ấy được dẹp yên. Đinh Bộ Lĩnh đem quân đánh đâu thắng đó, nên được gọi là Vạn Thắng vương. Trong nhiều trường hợp, hoàn cảnh, tùy vào thực trạng mỗi sứ quân mà Đinh Bộ Lĩnh tìm cách đánh thích hợp, hoặc bằng quân sự, hoặc bằng liên kết, hay dùng mưu dụ hàng. Mở đầu sự nghiệp dẹp loạn, Đinh Bộ Lĩnh đã đánh đám loạn thần Lữ Xử Bình và Kiều Tri Hựu ở triều đình Cổ Loa.Với 2 sứ quân họ Ngô là Ngô Nhật Khánh (Hà Nội) và Ngô Xương Xí (Thanh Hóa), Đinh Bộ Lĩnh không tiêu diệt mà dùng kế dụ hàng.Sứ quân Phạm Bạch Hổ (Hưng Yên) cũng tự nguyện về quy phục. Sứ quân Đỗ Cảnh Thạc là một sứ quân mạnh, có cung thành chắc chắn và hào sâu bao quanh.Theo thần phả Độc nhĩ đại vương ở Thanh Oai, Đỗ Cảnh Thạc là người trí dũng mưu lược, Đinh Bộ Lĩnh phải bàn mưu tính kế mà đánh. Ban đêm, Đinh Bộ Lĩnh cho quân bao vây bốn mặt thành và tiến đánh bất ngờ vào Trại Quyền. Bấy giờ Đỗ Cảnh Thạc đang ở đồn Bảo Đà, quân tướng không ứng cứu được nhau, bị mất cả thành luỹ, đồn trại, lương thực bèn bỏ thành chạy.Hai bên giao tranh hơn một năm sau, Đinh Bộ Lĩnh hạ được thành.Đỗ Cảnh Thạc bị trúng tên chết. Sứ quân Nguyễn Siêu chiếm Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Nội). Được tin Đinh Bộ Lĩnh sắp đánh, Nguyễn Siêu đem 1 vạn quân đóng ở Thanh Đàm, dùng Nguyễn Trí Khả làm tiên phong, Trần Côn làm tá dực, Nguyễn Hiền làm tổng quản các đạo quân, ngày đêm luyện tập, đào hào đắp luỹ để phòng bị. Trong trận giao tranh đầu tiên Đinh Bộ Lĩnh bị mất 4 tướng là Nguyễn Bồ, Nguyễn Phục, Đinh Thiết và Cao Sơn. Lần thứ 2 Đinh Bộ Lĩnh bày binh bố trận giao chiến. Nguyễn Siêu chia một nửa quân ở lại giữ thành, một nửa cùng sứ tướng vượt sông tìm viện binh của các sứ tướng khác.Gần tới bờ bắc, gặp gió lớn, thuyền bị đắm.Đinh Bộ Lĩnh biết tin, bèn sai võ sĩ nửa đêm phóng lửa đốt doanh trại.Quân Nguyễn Siêu tan.Nguyễn Siêu tử trận. Sứ quân Kiều Công Hãn đóng tại Phong Châu. Trước thế mạnh của sứ quân Đinh Bộ Lĩnh, Kiều Công Hãn đem quân xuống phía nam để hợp sức với Ngô Xương Xí.Khi đến thôn Vạn Diệp (Xã Nam Phong, Nam Trực, Nam Định) bị một hào trưởng địa phương là Nguyễn Tấn đem quân chặn đánh, Kiều Công Hãn bị thương chạy đến Lũng Kiều thì mất. Theo thần tích làng Tiên Xá thì Nguyễn Thủ Tiệp ở Tiên Du cũng không chống nổi Đinh Bộ Lĩnh, bỏ chạy về Cần Hải (Cửa Cồn, Quỳnh Lưu, Nghệ An) đánh nhau vài trận rồi chết ở trang Hương Ái. Theo thần tích ở xã Bình Sơn (Thuận Thành, Bắc Ninh) thì Lý Khuê đánh nhau với Đinh Bộ Lĩnh bị thua và mất ở làng Dương Xá. Căn cứ vào chính sử và các nguồn tài liệu của các nhà nghiên cứu thì các sứ quân Nguyễn Khoan, Lã Đường được xác định là lực lượng tự tan rã, không rõ kết cục của chủ tướng. Lên ngôi hoàng đế và chính sách trị nước: QUỐC HIỆU, KINH ĐÔ Năm Mậu Thìn 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, khi ông vừa 43 tuổi. Trở thành hoàng đế, ông cho đặt lại quốc hiệu, không chịu nhận cái tên An Nam mà Trung Quốc đặt cho mình xem như là một phủ dưới quyền đô hộ của họ. Và ông đã đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Phải là Đại, và phải là Cồ. Nước Việt này lớn mạnh đàng hoàng, phải được gọi tên như thế.* Đinh Tiên Hoàng cũng nghĩ đến việc thành lập một kinh đô cho có bề thế trang nghiêm. Ông không muốn ở lại thành Đại La, thành Cổ Loa, mà chọn ngay quê hương của mình để xây dựng thành một trung tâm đầu não của đất nước. Địa thế Hoa Lư so với hai nơi trên tuy có hẹp hơn, nhưng có lợi thế là rất hiểm, có thể đề phòng những cuộc tấn công của quân thù. Hoa Lư đã sớm trở thành một đô thị kinh tế văn hóa và một thành trì quân sự. Từ trên cao chụp xuống toàn thể khu Hoa Lư, ta thấy lô nhô nhiều ngọn núi đá cao chạy hình vòng cung, trông chẳng khác nào một trường thành thiên nhiên che chở cho một địa thế quan trọng. Chính nhờ vào vòng cung thiên nhiên này mà Đinh Bộ Lĩnh đã biến khu Hoa Lư thành kinh đô của Đại Cồ Việt. Cũng như Tần Thủy Hoàng ngày trước đã nối liền những đoản thành có trước thành một trường thành, gọi là Vạn Lý Trường Thành, thì Đinh Bộ Lĩnh cũng đã dùng gạch và đất để nối liền những ngọn núi lô nhô lại với nhau thành một vòng cung vững chắc, không có kẽ hở, những Sứ quân chung quanh không tài nào đem quân vượt thành cao xâm chiếm. Các nhà khảo cổ cho biết chân thành có gạch bó, và tường thành thường cao 10 mét. Ngoài ra, về phía đông kinh thành kiên cố, có núi Cột Cờ, nơi có lá quốc kỳ Đại Cồ Việt bay phất phới theo gió núi, có ghềnh tháp cao nơi vua Đinh duyệt thủy quân, có hang Tiền nơi lưu giữ tài sản quốc gia và lại còn có động Thiên Tôn nơi nhốt hổ báo để xử kẻ có tội. Trải qua mưa nắng hơn 10 thế kỷ, các di tích lịch sử ở cố đô Hoa Lư bị tàn phá, đổ nát. Hiện nay chỉ còn lại đền vua Đinh và đền vua Lê được xây dựng trên nền cũ vào thế kỷ XVIII và sau đó còn được trùng tu nhiều lần. Đền toạ lạc tại thôn Yên Thượng, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, cách thị xã Ninh Bình khoảng 12km về phía Tây Bắc. Đền quay hướng Đông, trên khuôn viên rộng khoảng 5 mẫu, lấy núi Mã Yên làm án. Đền vua Đinh Tiên Hoàng kiến trúc theo kiểu "nội công ngoại quốc", đường đi trong đền theo hình chữ "vương". Các công trình kiến trúc đối xứng nhau theo đường chính đạo, tên gọi phỏng theo tên gọi của cung điện thời xưa. * Đinh Tiên Hoàng cho xây cung điện, chế triều nghi, định phẩm hàm quan văn, quan võ. Tư chất thanh niên ở vua Đinh Tiên Hoàng còn thể hiện cả ở sự phóng khoáng, sự chung thủy của ông trong tình bạn tình yêu. Như ta đã biết ông có mấy người bạn, chơi thân với nhau từ thuở thiếu thời, và luôn kề vai sát cánh với nhau trong các mặt trận, đến nay ông đều tiếp tục sử dụng, dành cho họ những chức tước trọng yếu trong triều. Vua phong cho Nguyễn Bặc là Định Quốc công, Đinh Điền là Ngoại giao, Lê Hoàn làm Thập Đạo tướng quân (Tổng chỉ huy quân đội), Lưu Cơ làm Đô hộ phủ sĩ sư, Tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt đại sư, Trương Ma Ni làm Tăng lục, Đạo sĩ Đặng Huyền Quang được làm Sùng chân uy nghi và phong cho con là Đinh Liễn là Nam Việt vương. Biết con mình có tài, ông giao cho việc phụ trách ngoại giao, nhiều lần đi sứ. Đinh Liễn có một viên tướng thủ túc có biệt tài, tiến lên vua cha, đó là Lê Hoàn. Đinh Bộ Lĩnh không ngần ngại, dùng ngay Lê Hoàn vào việc lớn, dần dần lên đến chức thập đạo tướng quân. Ông biết cách dựa hẳn vào tầng lớp trí thức của dân tộc để mưu đồ nghiệp lớn.* CHÍNH SÁCH TRỊ VÌ Đinh Tiên Hoàng luôn luôn chăm chú sao cho đất nước của mình vững mạnh, chống lại mọi âm mưu xâm lược hay bạo loạn. Ông muốn dùng uy để chế ngự thiên hạ, đặt vạc lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ trong cũi, hạ lệnh: Kẻ nào trái phép sẽ bị vứt vào vạc dầu hoặc chuồng cọp. Mặc dù chưa phải dùng đến hình phạt ấy nhưng mọi người đều sợ, phép nước được tuân thủ. Ông đặc biệt chú ý đến việc tổ chức quân đội cho nước nhà. Về kinh tế, từ năm Canh Ngọ 1970, bắt đầu đặt hiệu năm là Thái Bình. Đinh Tiên Hoàng truyền cho đúc tiền đồng, là tiền tệ xưa nhất ở Việt Nam, gọi là tiền đồng Thái Bình. Nhà Đinh cũng là triều đại đầu tiên đặt nền móng cho nền tài chính - tiền tệ của Nhà nước phong kiến Việt Nam. Đồng tiền Thái Bình được đúc bằng đồng, hình tròn, lỗ vuông, có thể xâu thành chuỗi. Mặt phải có đúc bốn chữ "Thái Bình Hưng Bảo", mặt sau có chữ "Đinh". Hầu hết gần 70 triều vua sau đó, triều nào cũng cho đúc tiền của mình bằng đồng. Về chính trị, trong nước có phần quá thiên về sử dụng hình phạt nghiêm khắc. Vua muốn dùng uy chế ngự thiên hạ, bèn đặt vạc lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ trong cũi, hạ lệnh rằng: "Kẻ nào trái phép phải chịu tội bỏ vạc dầu, cho hổ ăn". Mọi người đều sợ phục, không ai dám phạm. Về ngoại giao, Đinh Tiên Hoàng là người rất khôn khéo trong lĩnh vực này. Để tránh cuộc đụng độ, năm Nhâm Thân 972, Đinh Tiên Hoàng sai con là Đinh Liễn sang cống nhà Tống Trung Quốc. Vua nhà Tống sai sứ sang phong cho Tiên Hoàng làm Giao Chỉ quận vương và phong cho Nam Việt vương Đinh Liễn làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ. Từ đó Đại Cồ Việt giữ lệ sang triều cống phương Bắc. Từ năm Thái Bình thứ 7, thuyền buôn của các nước ngoài đến dâng sản vật của nước họ. Kết mối giao thương. Về quân sự, Đinh Tiên Hoàng phân ra đạo, quân, lữ, tốt, ngũ. Mỗi một đạo có 10 quân, 1 quân 10 lữ, 1 lữ 10 tốt, 1 tốt 10 ngũ, 1 ngũ 10 người. Như vậy quân đội nhà Đinh khi đó có 10 đạo, là khoảng 1 triệu người trong khi dân số đất nước khoảng 3 triệu. Vua thực hiện “ngụ binh ư nông”, đó là hình thức vũ trang toàn dân, dựa vào nghề nông mà phát triển quân đội. Nhiều nhà sử học thời đó đã có những nhận xét về Tiên Hoàng đế: Nhà sử học Lê Văn Hưu ca ngợi công lao của vua: "Tiên Hoàng nhờ có tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, đương lúc nước Việt ta không có chủ, các hùng trưởng cát cứ, một phen cất quân mà mười hai sứ phục hết. Vua mở nước dựng đô, đổi xưng Hoàng Đế, đặt trăm quan, lập sáu quân, chế độ gần đầy đủ, có lẽ ý Trời vì nước Việt ta mà sinh bậc thánh triết..." Nhà sử học Ngô Sĩ Liên nhận xét về tài năng của vua trong việc dẹp loạn 12 sứ quân: "Vận trời đất, bí rồi ắt thái, Bắc Nam đều cùng một lẽ ấy. Thời Ngũ đại bên Bắc triều Trung Quốc suy loạn rồi Tống Thái Tổ nổi lên. Ở Nam triều nước ta, 12 sứ quân phân chia quấy nhiễu, rồi Đinh Tiên Hoàng nổi lên. Không phải là ngẫu nhiên mà do vận trời vậy." Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú) nhận xét: "Xét nước ta từ thời Hùng Vương mới bắt đầu thông hiếu với Trung Quốc nhưng danh hiệu còn nhỏ không được dự vào hàng chư hầu triều hội... đến khi Đinh Tiên Hoàng bình định các sứ quân, khôi phục mở mang bờ cõi, bấy giờ điển lễ, sách phong của Trung Quốc mới cho đứng riêng là một nước" Đại Việt sử ký toàn thư nhận xét: "Vua tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, quét sạch các hùng trưởng... song không biết dự phòng, không giữ được trọn đời, tiếc thay! " Bỏ trưởng lập ấu: Với những chính sách trị vì trong suốt 12 năm ở ngôi vua, Đinh Bộ Lĩnh- ông Vua xứ hoa lau, người lớn lên trong thời bình, lập nghiệp trong loạn lạc dường như đã để lại cho hậu thế một tấm gương về vị vua anh minh, sáng suốt, tài đức hơn người nếu không có sai lầm cuối đời của vua trong việc bỏ trưởng lập ấu. Sai lầm này chính là mấu chốt cho sự chuyển giao quyền lực từ nhà Đinh sang nhà Tiền Lê sau này. Đinh Tiên Hoàng có ba người con trai: Đinh Liễn, Đinh Hạng Lang và Đinh Toàn. Đinh Liễn là con trai cả của vua Đinh và là người con trai duy nhất sinh ra, trưởng thành trước khi vua Đinh lên ngôi. Đinh Liễn đã theo Tiên Hoàng đi ra trận mạc từ thuở hàn vi, sát cánh cùng cha chịu bao gian nan, cơ cực thời loạn lạc. Đinh Liễn đã từng làm con tin cho nhà Ngô khi Đinh Bộ Lĩnh cát cứ ở Hoa Lư không chịu thần phục nhà Ngô lúc đó do hai anh em Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn cùng trị vì. Trong nước đại loạn, 12 sứ quân nổi dậy khắp nơi, theo lệnh cha, Đinh Liễn vào Ái Châu để mộ quân lo việc đánh dẹp và ông mộ được 3000 tráng sĩ, trong đó có Lê Hoàn. Từ đó, Đinh Liễn cùng cha ra tay đánh dẹp, chiêu hàng các sứ quân. Để tránh cuộc đụng độ với nhà Tống năm Nhâm Thân, năm 972 Đinh Liễn được vua cha sai đi sứ nhà Tống, mang đồ vật sang cống Tống và được phong làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ. Thuở Đinh Tiên Hoàng còn trong thế loạn lạc, dẹp loạn 12 sứ quân, Đinh Liễn luôn sát cánh giúp đỡ vua cha. Rồi đến khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi vua, việc đi sứ sang Tống đã giúp triều Đinh mở rộng quan hệ giao hảo với Tống và tránh nhiều cuộc đụng độ với nhà Tống. Thế nhưng, đến năm 978 Tiên Hoàng đế lúc đó đã có thêm hai người con trai bé là Đinh Toàn và Đinh Hạng Lang, vua yêu con nhỏ nên đã lập Đinh Hạng Lang làm Thái tử khi mới 4 tuổi. Những công lao của mình không được vua cha thừa nhận để trao ngôi Thái tử, Đinh Liễn quá tức giận đã giết chết em trai mình Đinh Hạng Lang. Quả là sai lầm to lớn của Đinh Tiên Hoàng. Chính việc bỏ trưởng lập ấu, cho con út Hạng Lang làm Thái tử, Đinh Tiên Hoàng đã gián tiếp gây ra sự giết hại lẫn nhau tranh giành ngai vị của hai người con trai mình. Đây quả là bài học đắt giá, đau lòng trong lịch sử nhà Đinh! Họa loạn gây nên ngay trong hoàng tộc! Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỉ quyển 1: "Truyền ngôi cho con trưởng là đạo thường của muôn đời, bỏ đạo ấy mà không có biến loạn thì quả là chưa bao giờ nghe vậy. Cũng có khi nhân thời loạn mà lập Thái Tử, nhưng trước hết phải chọn người có công, nếu con trưởng ác đức thì phải phế bỏ đi rồi sau mới lập con thứ. Thế là xử việc lúc biến mà vẫn được đúng, người xưa cũng từng làm. Nam Việt Vương Đinh Liễn là con trưởng, từng có công lao, chưa thấy có lỗi. Đinh Tiên Hoàng vì yêu con thứ mà quên con trưởng, tưởng thế là thỏa tình yêu quý, nào có biết đâu như thế là làm hại con. Còn như Đinh Liễn giết em, nhẫn tâm đến thế thì rõ là thiên đạo và nhân luân đều mất hết, tức là tự chuốc họa thiệt thân, lại còn liên lụy đến cha nữa, há chẳng rùng rợn lắm sao? Nếu không như vậy thì tội đại ác của Đỗ Thích vì đâu mà có, đúng như lời sấm truyền?" Tuy nhiên, Tiên Hoàng đã nhận ra sai lầm của mình khi lập con nhỏ bỏ con lớn và nhà vua đã đủ sáng suốt khi không giết nốt con lớn, chỗ dựa lớn nhất của ông trong việc duy trì sự nghiệp nhà Đinh. Tuy nhiên, cũng không vì thế mà sự nghiệp nhà Đinh lâu bền, huy hoàng hơn. Năm Kỷ Mão 979 một viên quan là Đỗ Thích, mơ thấy sao rơi vào miệng, tưởng là điềm báo được làm vua nên đã giết chết cả Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu gần đây có xu hướng bác bỏ giả thiết cho rằng cha con Đinh Tiên Hoàng là do Đỗ Thích giết mà đặt giả thiết thủ phạm chính là Lê Hoàn cùng với sự hậu thuẫn của Dương Vân Nga. Họ lý giải rằng Lê Hoàn muốn toan tính lấy ngôi, còn Dương Vân Nga trong cuộc tranh đua với các hoàng hậu khác để giành ngai vàng cho con trai đã cấu kết với Lê Hoàn Sự kiện cái chết của Đinh Tiên Hoàng còn nhiều nghi vấn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu hiện đại khẳng định chắc chắn Tiên Hoàng bị hại không phải vì Đỗ Thích muốn đoạt ngôi và có nhiều ý kiến nghiêng về khả năng thủ phạm là Lê Hoàn và Dương hậu. DƯƠNG VÂN NGA- HOÀNG HẬU HAI TRIỀU ![]() Dương Vân Nga- hoàng hậu hai triều, cũng là một nhân vật có ảnh hưởng to lớn trong triều Đinh. Dương Vân Nga là vợ của vua Đinh Tiên Hoàng, sau trở thành Hoàng hậu của vua Lê Đại Hành. Bà đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự chuyển giao giữa nhà Đinh và nhà Tiền Lê. Thái hậu Dương Vân Nga từ nhiều góc nhìn Dương Vân Nga lấy Ðinh Bộ Lĩnh lúc còn trẻ. Khi Ðinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, đã phong bà làm chính cung hoàng hậu, gánh vác việc nội trợ của cả triều đình. Khi Ðinh Tiên Hoàng mất, con của ông và bà Dương Vân Nga là Ðinh Toàn mới có sáu tuổi lên ngôi vua hoàng đế. Nhân cơ hội đó, giặc Tống lăm le xâm lược nước ta. Ðất nước lúc đó ở trong tình trạng ” nghìn cân treo sợi tóc”. Trước nguyện vọng của dân quân đội, thái hậu Dương Vân Nga đã hy sinh quyền lợi của con mình, lấy áo long cổn của vua Ðinh trao cho Lê Hoàn lên ngôi hoàng để tổ chức cuộc chống Tống. Sau khi chiến thắng quân xâm lược Tống, Lê Hoàng lập Dương Vân Nga làm Ðại Thắng Minh hoàng hậu, gánh vác việc nội trợ của triều đình nhà Lê. Đinh Tiên Hoàng, ông Vua xứ hoa lau, người lớn lên trong thời bình, lập nghiệp trong dẹp loạn, đã xứng đáng là người giữ vị trí trụ cột trong việc củng cố quốc gia thống nhất, tập quyền trong thế kỷ thứ 10. Đinh Tiên Hoàng là vị vua đặt nền móng sáng lập nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên ở Việt Nam, vì vậy mà ông còn được gọi là người mở nền chính thống cho các triều đại phong kiến trong lịch sử. Với tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời như lời nhận xét của nhà sử học Lê Văn Hưu, Đinh Tiên Hoàng là người có công trong việc dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước. Thắng lợi của ông là thắng lợi của xu hướng thống nhất quốc gia, của tinh thần dân tộc và ý chí độc lập trong nhân dân. Thêm vào đó, cùng với những chính sách đối nội hết sức chiến lược, mềm dẻo và uốn nắn, phù hợp với từng mục tiêu cụ thể, Đinh Tiên Hoàng đã có được thành công rực rỡ trong các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, quân sự. Đinh Tiên Hoàng là người tạo tiền đề cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Tống năm 981 của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Lê Hoàn. ![]() Tài liệu tham khảo: -việt nam sử lược ( Trần Trọng Kim) -đại Việt sử kí toàn thư ( Ngô Sĩ Liên) -internet p/s: thức mấy đêm mần cái ni nên post cho vui vui + chia sẻ ^-^ rồi thanks cho tớ với , hic ![]() Khổ chủ:
__________________
I need to die to know I am alive... Thay đổi nội dung bởi: meiyuan0812, 12-05-2010 lúc 09:50 AM |
|
|
|
| Đã có 9 Thành viên gởi lời cảm ơn meiyuan0812 vì bài viết hữu ích. | changk3n07 (13-05-2010), duymaster (12-05-2010), gienkhan (12-05-2010), paradise_romantic (14-05-2010), seawind (15-05-2010), Tôn Ngộ Không ![]() ![]() (12-05-2010), tuanvu337 (12-05-2010), Ut_heo_kute (12-05-2010), vuong_pro_c5 (27-09-2011) |
|
|
#2 |
![]() ![]() Tên thật: Chưa khai sinh
Giới tính:
![]() Tham gia: 04-11-2009
Bài gởi: 6
Đã gởi lời cảm ơn: 96
Được cảm ơn 8 lần trong 3 bài viết
Danh vọng: 0 ![]() |
![]() cho uy nghiêm như thế mà chơi cái trò ,,,, mất hình tượng hết |
|
|
|
| Thành viên đã gởi lời cảm ơn changk3n07 vì bài viết hữu ích. | Colour Love (13-05-2010) |
|
|
#3 |
![]() ![]() Tên thật: Chưa khai sinh
Giới tính:
![]() Tham gia: 02-02-2010
Bài gởi: 485
Đã gởi lời cảm ơn: 264
Được cảm ơn 608 lần trong 217 bài viết
Danh vọng: 15 ![]() |
k thấy p/s ở dưới hở bạn ,( xem lại rầu hãy nói nhé
) thanks
__________________
I need to die to know I am alive... |
|
|
|
![]() |
| Chia sẻ chủ đề này đến |
Khung soạn thảo công thức Toán, Lý, Hóa ...
|
| Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách) | |
| Ðiều chỉnh đề tài | |
| Chế độ hiển thị bài viết | |
|
|
Chủ đề tương tự
|
||||
| Ðề tài | Người gởi | Chuyên mục | Trả lời | Bài mới gởi |
| Sinh viên 'náo loạn' công an phường để giải cứu cho bạn | Dust# | Thế giới đó đây | 0 | 06-02-2010 08:48 PM |

